Đỉnh cao của khát vọng độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc

Đỉnh cao của khát vọng độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc

19:03 | 29/04/2016

(Bqp.vn) - Cách đây 41 năm (30/4/1975 - 30/4/2016), cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vô cùng oanh liệt của dân tộc ta, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Có được thắng lợi vĩ đại ấy, dân tộc ta đã trải qua những chặng đường đấu tranh đầy hy sinh gian khổ, đã kế thừa và phát triển lên một tầm cao mới truyền thống yêu nước, ý chí quật cường bất khuất của con người và văn hóa Việt Nam; đồng thời, thắng lợi đó còn là đỉnh cao của khát vọng độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc của cả một dân tộc anh hùng.

 

Cuối tháng 3/1975, đồng chí Lê Đức Thọ từ miền Bắc vào Nam cùng đồng chí Phạm Hùng và Đại tướng Văn Tiến Dũng thay mặt Bộ Chính trị trực tiếp chỉ đạo chiến dịch giải phóng Sài Gòn. (ảnh tư liệu)

Trải cùng dặm dài của lịch sử, khát vọng độc lập, tự do và thống nhất non sông đã thấm nhuần trong tư tưởng mỗi con người Việt Nam, được nuôi dưỡng và truyền lại qua bao thế hệ. Mỗi khi đất nước bị xâm lăng, ý chí độc lập, tự do lại được nhân lên gấp bội, như mạch ngầm tạo nên sức mạnh đưa đất nước, dân tộc vượt qua những thử thách ngặt nghèo trong những chặng đường đấu tranh thoát khỏi kiếp đời nô lệ. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” [1]. Chính tinh thần đoàn kết dân tộc ấy đã góp phần làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (2/9/1945). Trong “Tuyên ngôn độc lập”, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và thật sự, đã trở thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” [2]. Với khát vọng đó, toàn thể dân tộc đoàn kết chặt chẽ bên nhau, làm nên một Điện Biên lịch sử, “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Thế chân thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ đã thực hiện một cuộc chiến tranh kéo dài nhất trong lịch sử Mỹ, với quy mô lớn, tính chất ác liệt hơn nhiều cuộc chiến tranh xảy ra từ sau chiến tranh thế giới II. Mỹ đã huy động vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam một khối lượng bom đạn, vật chất kỹ thuật chưa từng có trên một địa bàn tương đối hẹp, đã sử dụng mọi loại vũ khí hiện đại nhất trừ bom nguyên tử, đã thi thố mọi chiến lược, chiến thuật, thủ đoạn, cả chính trị, quân sự, ngoại giao, đã dùng mọi thủ đoạn chiến tranh, kể cả sử dụng vũ khí chất độc hóa học. Các chiến lược gia, các tướng lĩnh bậc nhất của Mỹ đều đã được Nhà Trắng và Lầu Năm Góc huy động vào cuộc đấu trí trong chiến tranh Việt Nam. Dễ thấy là, mục tiêu chiến lược của đế quốc Mỹ không chỉ nhằm lấy Việt Nam làm bàn đạp tiến công, tiêu diệt chủ nghĩa xã hội, phong trào cách mạng thế giới, mà còn muốn thôn tính nước ta, “kéo dài biên giới Hoa Kỳ đến vĩ tuyến 17”.

Nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với đặc điểm lớn và bao trùm nhất là đất nước bị chia làm hai miền Bắc - Nam. Nhưng Việt Nam là một cơ thể thống nhất, từ đất liền ra hải đảo, không thể tách rời. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn. Song! chân lý đó không bao giờ thay đổi” [3]. Do đó, toàn thể dân tộc Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ với niềm tin tất thắng, quyết tâm thực hiện khát vọng cháy bỏng là độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc.

Vượt qua những khó khăn, thách thức trong những năm 1954 - 1959, với đường lối cách mạng đúng đắn do Hội nghị Trung ương 15 khoá II (1959) và Đại hội lần thứ III của Đảng (1960) đề ra, cách mạng miền Nam đã chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. Phong trào Đồng khởi cuối năm 1959 đầu năm 1960 thật sự và một cao trào cách mạng và là bước phát triển nhảy vọt của cách mạng miền Nam, giáng đòn nặng nề vào bộ máy thống trị của Mỹ - Diệm, làm phá sản mô hình, hình thức điển hình của chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

 

Quân Giải phóng tiến vào giải phóng sân bay Xuân lộc. (ảnh tư liệu)

Từ năm 1961, đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, tăng cường viện trợ và cố vấn Mỹ, xây dựng ngụy quân, ngụy quyền mạnh, dồn dân lập “Ấp chiến lược”. Những cuộc khởi nghĩa từng phần từ phong trào Đồng Khởi đã chuyển thành chiến tranh cách mạng, nhất là sau chiến thắng Ấp Bắc (2/1/1963), kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, kết hợp đánh địch ở vùng núi, nông thôn, đồng bằng với phong trào đấu tranh mạnh mẽ ở thành thị đã đẩy chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm đến sụp đổ.

Sau thất bại trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, đứng trước khả năng đế quốc Mỹ trực tiếp đưa quân vào thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam Việt Nam, ngày 27/3/1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị Chính trị đặc biệt, gồm 300 đại biểu đại diện cho các bậc lão thành cách mạng, các ngành, các giới, các đoàn thể, trí thức tiến bộ, nhân sĩ yêu nước và anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc. Đây thực sự là “Hội nghị Diên Hồng” thời đại Hồ Chí Minh để thống nhất ý chí quyết tâm đoàn kết toàn dân tộc cùng chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Tiếp đó, khi đế quốc Mỹ đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam và tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc, ngày 17/7/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra “Lời kêu gọi” chống Mỹ, cứu nước. Trong lời kêu gọi bất hủ ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” [4]. Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự là nguồn động lực mới góp phần thắt chặt thêm khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đưa cả dân tộc Việt Nam vào cuộc đụng đầu lịch sử với đế quốc Mỹ với niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng.

Hưởng ứng “Lời kêu gọi” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân dân miền Bắc đã kết thành một khối, đẩy mạnh các phong trào thi đua sôi nổi trên tất cả các lĩnh vực với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Đặc biệt, các phong trào, như: “Thanh niên ba sẵn sàng”, “Phụ nữ ba đảm đang”, “Tay cày, tay súng”, “Tay búa, tay súng” và các khẩu hiệu hành động: “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”... đã lôi cuốn đông đảo mọi tầng lớp nhân dân, từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược, từ biên giới đến hải đảo hăng hái thi đua vừa lao động sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu dũng cảm, bắn rơi nhiều máy bay Mỹ; bảo vệ vững chắc hậu phương miền Bắc, đồng thời liên tục chi viện ngày càng cao sức người, sức của cho chiến trường miền Nam và các chiến trường phối hợp khác.

Trên chiến trường miền Nam, kiên định với đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng và hưởng ứng mạnh mẽ “Lời kêu gọi” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta vừa đẩy mạnh tiến công địch liên tục, rộng khắp với quy mô ngày càng lớn trên cả phương diện quân sự, chính trị và binh vận; vừa đánh địch, vừa kết hợp lập thế trận và chuẩn bị tiềm lực mọi mặt; xây dựng và mở rộng căn cứ, mở rộng vùng giải phóng để chuẩn bị trực tiếp cho những đòn tiến công quyết định.

Đến cuối năm 1974, việc chuẩn bị về mọi mặt đã tạo nên sự chuyển biến căn bản trong thế và lực của ta trên chiến trường. Trên cơ sở đó, Bộ Chính trị hạ quyết tâm động viên sức mạnh của quân dân cả nước hoàn thành giải phóng miền Nam trong 2 năm (1975, 1976). Sau Chiến thắng Phước Long (1/1975), thế và lực của ta tăng lên, khả năng Mỹ đưa quân trở lại là rất khó xảy ra, Bộ Chính trị đi đến quyết định mở cuộc tiến công chiến lược để hoàn thành giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975. Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương quyết định mở Chiến dịch Tây Nguyên. Thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên - đòn “điểm trúng huyệt” đã nhanh chóng làm thay đổi cục diện chiến trường, tăng cường thế và lực của ta, mở ra thời cơ mới để quân và dân ta giải phóng miền Nam trong thời gian ngắn nhất.

 

 Xe tăng Quân Giải phóng húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975. (ảnh tư liệu)

Cuối tháng 4/1975, sau khi phá vỡ được tuyến phòng thủ Xuân Lộc - “cánh cửa thép” phía Đông Sài Gòn, các cánh quân chủ lực cơ động mạnh cùng với thế trận chiến tranh nhân dân dựa trên cơ sở nền tảng là khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chúng ta đã đồng loạt tiến công vào nội đô Sài Gòn - Gia Định, đánh chiếm các mục tiêu đầu não của Chính quyền và Quân đội Việt Nam Cộng hòa. 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, lá cờ giải phóng tung bay trên đỉnh cột cờ nóc “Dinh Độc Lập”, đánh dấu thời khắc sụp đổ hoàn toàn của chế độ Việt Nam cộng hòa, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thắng lợi của đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, sáng tạo của Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đường lối chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện, tự lực tự cường, vừa kháng chiến vừa kiến quốc.

 Thắng lợi vẻ vang của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thắng lợi của nền văn hoá Việt Nam được xây đắp từ nền văn hoá của 54 dân tộc anh em trên đất nước ta qua hàng ngàn năm lịch sử, được tôi luyện trong cuộc trường chinh đấu tranh cải tạo thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm, vươn lên tự khẳng định mình. Đó là nền văn hoá bắt nguồn từ lòng yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu đất nước, yêu độc lập, tự do, hòa bình, từ lòng nhân ái trọng chính nghĩa, ghét gian tà, thấm đượm chủ nghĩa nhân văn cao cả và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, lại biết tiếp thu những tinh hoa của nhiều nền văn hoá của thế giới. Nền văn hoá ấy được bồi đắp và phát huy lên tầm cao mới, xây dựng và phát triển lên thành một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đó là sức mạnh vĩ đại của ý chí và trí tuệ Việt Nam, của bản lĩnh và nhân cách Việt Nam, của nền văn hiến Việt Nam.

 

Người dân Sài Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay) đón chào quân giải phóng tháng 4/1975. (ảnh tư liệu)

Đặc biệt, Đại thắng mùa Xuân 1975 còn là đỉnh cao của khát vọng độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc. Khát vọng đó thể hiện ở sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam thần kỳ với sự hy sinh to lớn của đồng bào, chiến sĩ miền Nam trên tiền tuyến lớn và sự chi viện hết lòng của hậu phương lớn miền Bắc với tinh thần “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” và “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Đại tướng Văn Tiến Dũng khẳng định với các nhà báo và học giả phương Tây rằng: “Một lần nữa tôi muốn nói rõ rằng nguồn gốc mọi thắng lợi của chúng tôi là sức mạnh của cả một dân tộc vùng lên làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình trong thời đại ngày nay” [5].

Tuy nhiên hiện nay, trên một số phương tiện thông tin, ấn phẩm, website… đây đó xuất hiện những luận điệu xuyên tạc lịch sử, phủ nhận tầm vóc chiến thắng vĩ đại đó của nhân dân Việt Nam. Họ tập trung xuyên tạc bản chất, tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta; hạ thấp ý nghĩa của chiến thắng, cho rằng “Đại thắng mùa Xuân 1975” không thể gọi là một chiến thắng vẻ vang, mà chỉ là một kết quả tất nhiên khi Hoa Kỳ thay đổi chính sách đối ngoại, rút quân, cắt viện trợ, bỏ rơi chính quyền và Quân đội Việt Nam cộng hòa... Thực tiễn lịch sử đã bác bỏ những luận điệu sai trái trên. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam là cuộc chiến tranh chính nghĩa, nhằm đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, thống nhất đất nước. Thắng lợi vĩ đại đó của nhân dân Việt Nam là kết quả của cả một quá trình đấu tranh cách mạng anh dũng, kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam với bao tổn thất, hy sinh dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) và lãnh tụ Hồ Chí Minh; là thắng lợi của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; thắng lợi của sự kiên trì đường lối tiến hành chiến tranh nhân dân và của nghệ thuật quân sự tài tình biết thắng từng bước, đánh cho “Mỹ cút”, tiến tới đánh cho “ngụy nhào”. Trong cuộc chiến tranh này, chiến thắng thuộc về Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, thắng lợi của bạn bè, các lực lượng tiến bộ và yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Đúng như Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỉ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tình thời đại sâu sắc” [6].

Đã 41 năm trôi qua, thế giới có biết bao sự đổi thay, lịch sử loài người và lịch sử dân tộc Việt Nam chắc chắn sẽ được viết tiếp trên hành trình dài vô tận, nhưng những bài học kinh nghiệm của Đại thắng mùa Xuân 1975 rất cần được đúc kết, vận dụng trong giai đoạn cách mạng mới, trong đó, bài học về phát huy giá trị của khát vọng độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc vẫn mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần động viên toàn thể dân tộc Việt Nam hôm nay “quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” [7], sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ mong đợi lúc sinh thời.

[1]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 6, Nxb CTQG, Hà Nội 2000, tr 171.

[2]. Sđd, tr 1-2.

[3]. Sđd, tr 246.

[4]. Báo Nhân Dân, số 4484, ngày 17-7-1966.

[5]. Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Văn Tiến Dũng, Nguyễn Cơ Thạch: Vì sao Mỹ thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1986, tr 48.

[6]. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1976). Dẫn theo Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 37 (1976), Nxb CTQG, Hà Nội, 2004, tr.471.

[7]. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, Hà Nội 2011, tr 62.

PGS, TS Nguyễn Danh Tiên, Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

File đính kèm :

Các tin khác