Chiến thắng Đường 9 - Khe Sanh, 50 năm nhìn lại

Chiến thắng Đường 9 - Khe Sanh, 50 năm nhìn lại

(Bqp.vn) - Cách đây vừa đúng nửa thế kỷ, cùng với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 trên toàn miền Nam, quân và dân ta đã giành thắng lợi to lớn trong Chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh Xuân - Hè 1968. Sau hơn 170 ngày đêm tiến công, vây hãm, giam chân địch, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu một lực lượng lớn quân Mỹ và quân đội Sài Gòn, buộc đối phương phải rút bỏ một vị trí chiến lược trọng yếu trên tuyến phòng thủ Đường số 9. Với độ lùi thời gian, tầm vóc, ý nghĩa to lớn của Chiến thắng Đường 9 - Khe Sanh 1968 ngày càng được khẳng định là một sự kiện có tầm quan trọng chiến lược trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Quang cảnh hội thảo khoa học “Chiến thắng Đường 9 - Khe Sanh, Tầm vóc và bài học lịch sử” ngày 9/7 tại Nghệ An.

Từ chiến thắng này, có thể rút ra một số vấn đề như sau:

Thứ nhất, Chiến thắng Đường 9 - Khe Sanh 1968 là minh chứng khẳng định chủ trương đúng đắn và tài thao lược của Đảng Lao động Việt Nam

Từ năm 1965, sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh vào miền Nam Việt Nam, tiến hành “chiến tranh cục bộ” với hai gọng kìm “tìm diệt” và “bình định”, đồng thời đẩy mạnh chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ra miền Bắc. Với quân số đông và vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại, tại miền Nam, Mỹ mở các cuộc hành quân “tìm diệt” bằng hai cuộc phản công chiến lược lớn mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967. Tuy nhiên, quân và dân ta trên khắp các chiến trường đã đánh bại cả hai cuộc phản công chiến lược của chúng. Gọng kìm “tìm diệt” bước đầu bị phá sản. Gọng kìm “bình định” mà chúng tập trung tiến hành ở các vùng trọng điểm quanh Sài Gòn, Đồng bằng sông Cửu Long và Khu 5 cũng tỏ ra không hiệu quả. Mỹ và chính quyền Sài Gòn ngày càng lún sâu vào thế bị động.

Ở miền Bắc, đế quốc Mỹ ra sức mở rộng chiến tranh phá hoại nhằm ngăn chặn khả năng vận chuyển, tiếp tế của miền Bắc cho cách mạng miền Nam, phá hoại tiềm lực, làm suy yếu hậu phương chiến lược của ta. Tuy nhiên, chúng không những không đạt mục tiêu mà còn chịu tổn thất nặng nề. Tất cả những điều đó có tác động sâu sắc, toàn diện đối với nước Mỹ.

Trên cơ sở nắm chắc diễn biến tình hình, từ ngày 20 đến ngày 24/10/1967, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp bàn chủ trương và kế hoạch chiến lược năm 1968, quyết định tiến hành Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam trong năm 1968 nhằm giành thắng lợi quyết định, chuyển cuộc kháng chiến sang giai đoạn mới. Tháng 1/1968, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 chính thức thông qua chủ trương này. Nghị quyết Hội nghị chỉ rõ: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy 1968 sẽ bao gồm hai đòn tiến công chính nhằm vào hai hướng chiến lược khác nhau, đó là:

- Đòn tiến công của bộ đội chủ lực tại chiến trường có lợi (chủ yếu là vùng rừng núi) nhằm kéo đại bộ phận lực lượng cơ động của địch (chủ yếu là quân Mỹ) ra vòng ngoài, thực hiện giam chân, đánh tiêu hao, tiêu diệt lớn, làm phá sản chiến lược quân sự “tìm diệt” của Mỹ.

- Đòn tiến công tổng hợp (kết hợp chặt chẽ quân sự, chính trị, binh vận) nhằm vào các đô thị, nơi có cơ quan đầu não và hậu cứ an toàn của Mỹ và chính quyền Sài Gòn nhằm giành thắng lợi quyết định, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán với ta.

Chấp hành nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh đã xây dựng kế hoạch tác chiến chiến lược Xuân - Hè 1968, trong đó nêu rõ: “Cùng với đòn tập kích chiến lược quy mô trên toàn miền đánh vào các thành phố, thị xã, kết hợp với nổi dậy của quần chúng ở nông thôn và đô thị - trọng điểm là Sài Gòn, Huế, thì còn có một đòn tiến công chiến lược của bộ đội chủ lực nhằm tiêu diệt, phân tán lực lượng chủ lực của địch mà chiến trường chính là hướng Đường số 9, tạo điều kiện cho các chiến trường khác hoàn thành nhiệm vụ tiến công và nổi dậy đồng loạt, trước hết cho Trị - Thiên - Huế” [1].

Thực hiện kế hoạch đã định, đêm 20/1/1968, quân ta nổ súng tiến công quận lỵ Hướng Hóa, tiếp đó là Huội San, chi khu Cam Lộ, Làng Vây, vây hãm Khe Sanh… Đây là các cứ điểm mạnh của địch trên tuyến phòng thủ Đường 9. Lúc này, nước Mỹ đang bước vào cuộc vận động tranh cử tổng thống. Mặt khác, sau khi đưa quân trực tiếp tham chiến ở miền Nam, tiến hành các cuộc phản công chiến lược vào hai mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967, leo thang đánh phá miền Bắc bị thất bại, chi phí chiến tranh tăng cao, lính Mỹ bị thiệt mạng ngày càng nhiều, chính trường Mỹ đang lâm vào tình trạng bối rối. Đây chính là thời điểm hết sức nhạy cảm nên khi Chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh vừa nổ ra đã thu hút sự chú ý của chính trường và dư luận nước Mỹ. Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam lập tức tập trung lực lượng đối phó. Mười ngày sau khi Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh nổ ra và đang trở thành tâm điểm của sự chú ý, thì cuộc Tổng tiến công và nổi dậy được tiến hành đồng loạt tại các đô thị trên toàn miền Nam…

Chiến thắng Đường 9 - Khe Sanh cùng với những thắng lợi ở các thành phố, thị xã trên toàn miền Nam trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, đã đánh bại cơ bản chiến lược “tìm diệt” của Mỹ, buộc chúng phải chuyển sang chiến lược “quét và giữ”, từng bước xuống thang chiến tranh, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Hội nghị Pa-ri.

Như vậy, trong Xuân - Hè 1968, ta đã giành thắng lợi to lớn ở cả hai hướng tiến công chiến lược. Thắng lợi đó xuất phát từ chủ trương đúng đắn, sáng tạo và tài thao lược của Đảng Lao động Việt Nam. Nhờ đó, ta đã giữ vững quyền chủ động chiến lược, đẩy địch vào thế bị động và từng bước đi đến thất bại.

Thứ hai, Chiến thắng Đường 9 - Khe Sanh 1968 thể hiện sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam và bước phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam

Trong Chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh Xuân - Hè 1968, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Đảng, sức mạnh của QĐND Việt Nam được nhân lên gấp bội; nghệ thuật quân sự Việt Nam cũng có bước phát triển vượt bậc.

Để thực hiện quyết tâm chiến dịch, ta sử dụng một lực lượng lớn quân chủ lực gồm: các Sư đoàn bộ binh 304, 320, 324, 325 (từ tháng 5/1968, Sư đoàn 308 và Trung đoàn 246 vào thay cho các Sư đoàn 324 và 325 chuyển chiến trường khác), Trung đoàn 270 (Vĩnh Linh), 2 tiểu đoàn địa phương tỉnh Quảng Trị, 1 đoàn và 5 đại đội đặc công, 5 trung đoàn pháo binh (45, 84, 164, 204, 675), 3 trung đoàn pháo phòng không (128, 282, 241), 1 tiểu đoàn xe tăng, 1 tiểu đoàn thông tin, 1 tiểu đoàn trinh sát, 1 tiểu đoàn hoá học, 1 trung đoàn và 2 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội súng phun lửa, 6 tiểu đoàn vận tải và lực lượng vũ trang địa phương các huyện Gio Linh, Cam Lộ, Hướng Hoá. Với lực lượng như vậy, đây là lần đầu tiên ta tổ chức chiến dịch hiệp đồng có quy mô lớn với sự tham gia của nhiều binh chủng, tác chiến trên một địa bàn rộng lớn.

Trong quá trình thực hành chiến dịch, mặc dù phải chiến đấu trong điều kiện hết sức gay go, ác liệt, dài ngày, đương đầu trực tiếp với quân Mỹ có lực lượng đông, hỏa lực mạnh, vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại, nhưng với  bản chất và truyền thống tốt đẹp của một đội quân “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”, cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam đã không quản gian khổ, hy sinh, tìm mọi cách vượt qua khó khăn, thử thách để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Với sự phát huy cao độ yếu tố chính trị tinh thần, sự phối hợp giúp đỡ của các cấp, các ngành, các đoàn thể, lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương, tất cả đã tạo thành sức mạnh tổng hợp giúp QĐND Việt Nam giành thắng lợi. Kết quả là, quân và dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 11.900 tên địch, bắn rơi 197 máy bay, bắn chìm, bắn cháy 80 tàu vận tải, phá huỷ 78 xe quân sự, 46 pháo, cối; phá vỡ một mảng tuyến phòng thủ Đường 9 của địch; giải phóng huyện Hướng Hoá với gần 10 nghìn dân, mở rộng hành lang chiến lược Bắc - Nam [2]. Quân Mỹ và quân Sài Gòn phải rút bỏ một vị trí chiến lược trọng yếu trên tuyến phòng thủ Đường số 9.

Về nghệ thuật quân sự, Chiến thắng Đường 9 - Khe Sanh 1968 là sự phát triển một bước của nghệ thuật quân sự Việt Nam trên cả ba lĩnh vực: chỉ đạo chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật, mà đặc điểm nổi bật là sự chủ động, sáng tạo, đánh theo cách đánh do ta lựa chọn, buộc quân địch phải bị động đối phó, hạn chế chỗ mạnh của chúng về quân số, hỏa lực mạnh, sức cơ động cao.

Về chỉ đạo chiến lược, Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đã đề ra chủ trương đúng đắn, sáng tạo, thể hiện sự mưu lược ở cả hai hướng tiến công chiến lược trong Xuân - Hè 1968.

Về nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật, điểm nổi bật trong Chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh Xuân - Hè 1968 là ta đã chọn đúng khu vực tác chiến chủ yếu và xác định chính xác phương châm chỉ đạo tác chiến chiến dịch, vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật để giành thắng lợi.

Cuối năm 1967 đầu 1968, trên tuyến Đường 9 từ Cửa Việt đến Lao Bảo, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tập trung tới 45 nghìn quân, trong đó có 28 nghìn quân Mỹ [3]. Tuy nhiên, qua nắm tình hình quân địch dọc tuyến phòng thủ, ta nhận thấy, địch tập trung phòng thủ ở hướng Đông là chủ yếu. Mặt khác, trong điều kiện so sánh tương quan lực lượng lúc đó, địch có ưu thế tuyệt đối về binh chủng kỹ thuật, nhất là không quân và thiết giáp. Đây là lực lượng sẽ phát huy sức mạnh ở địa bàn đồng bằng, cụ thể là ở địa bàn hướng Đông chiến dịch. Ở hướng Tây, địa bàn rừng núi, ưu thế hỏa lực, sức cơ động sẽ bị hạn chế.

Trên cơ sở nắm chắc tình hình địch và phân tích kỹ lưỡng những điểm mạnh và hạn chế của cả ta và địch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch hạ quyết tâm chọn hướng Tây là hướng chủ yếu, hướng Đông là hướng quan trọng của chiến dịch.

Chọn hướng Tây là hướng chủ yếu, ta đã hạn chế được nhiều điểm mạnh của địch. Khu vực Khe Sanh có địa hình núi cao, cây cối rậm rạp, xen kẽ các con sông Sê Pôn, Đak Krông, Rào Quán, Rào Thanh và nhiều khe suối có độ dốc khá lớn, tạo thành địa hình hiểm trở có thể làm chậm bước tiến của địch. Đối với ta, đây là địa bàn thuận lợi để che giấu, bảo toàn lực lượng, tạo yếu tố bất ngờ, phát huy được cách đánh sở trường. Mặt khác, hướng Tây là khu vực nhạy cảm đối với địch về chiến lược mà địch quyết phải giữ nên ta có thể thu hút một lực lượng lớn quân địch, kiềm chế và tiêu diệt chúng.Thực tế diễn biến chiến dịch cho thấy, tuy lực lượng ta ở cả hai hướng chủ yếu và hướng quan trọng không chênh lệch nhau nhiều, nhưng ở hướng Đông, các đơn vị ta gặp nhiều khó khăn hơn, không đánh được nhiều trận dứt điểm vì đây là địa bàn địch phát huy được ưu thế của chúng về xe tăng - thiết giáp, cũng như không quân và pháo binh. Trong khi đó, ở Khe Sanh, ta đã đạt mục tiêu chiến lược đề ra, thu hút và kìm giữ một lực lượng lớn quân địch rồi tiêu diệt chúng, buộc chúng phải rút bỏ Khe Sanh.

Cùng với việc xác định chính xác khu vực tác chiến chủ yếu, phương châm chỉ đạo tác chiến chiến dịch đã được ta xác định đúng ngay từ đầu. Đó là: Lấy đánh địch ngoài công sự và vây hãm, tiêu hao địch trong căn cứ là chính, chỉ đánh địch trong công sự khi cần thiết và chắc thắng. Đối với những cứ điểm riêng lẻ (cỡ tiểu đoàn), dùng phương pháp tiến công hiệp đồng binh chủng, dứt điểm trong thời gian ngắn. Thực hiện phương châm đó, ta thực hành tiến công địch ở Hướng Hóa và điểm cao 832 nhằm “khêu ngòi”, kéo viện binh địch lên Khe Sanh để tiêu diệt chúng ngoài công sự, sau đó chuyển sang vây hãm Tà Cơn để kéo viện binh đối phương ra giải tỏa. Trong số 11.900 địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, có đến khoảng 10.000 tên bị loại ngay trong lúc đang vận động hoặc tạm dừng. Thực tế đó khẳng định phương châm chỉ đạo tác chiến chiến dịch là hoàn toàn đúng đắn.

Về chiến thuật, ta vận dụng hết sức linh hoạt các hình thức: Tiến công hiệp đồng binh chủng để tiêu diệt những cứ điểm riêng lẻ (trận Làng Vây ngày 6/2/1968 là một thành công điển hình); thực hành vây hãm, từ vây hãm đến vây lấn, trụ bám dài ngày; vận động tiến công kết hợp chốt. Nhờ vận dụng đúng đắn, linh hoạt các hình thức chiến thuật nên mặc dù địch có lực lượng đông, hỏa lực mạnh nhưng ta vẫn kiên quyết bám trụ, giữ vững trận địa, tiêu diệt sinh lực địch, cuối cùng buộc địch phải rút bỏ Khe Sanh.

Có thể khẳng định, chọn đúng khu vực tác chiến chủ yếu, xác định chính xác phương châm chỉ đạo tác chiến chiến dịch, vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật là những yếu tố góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch.

Thứ ba, huy động và phát huy sức mạnh tổng hợp của hậu phương chiến tranh nhân dân

Huy động và phát huy sức mạnh hậu phương chiến tranh nhân dân là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành bại của các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc. Trong Chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh Xuân - Hè 1968, ta đã huy động và phát huy cao độ sức mạnh của hậu phương, đặc biệt là hậu phương tại chỗ trên địa bàn chiến dịch. Ngay từ giai đoạn chuẩn bị chiến dịch, hậu phương miền Bắc nói chung và hậu phương tại chỗ nói riêng đã được huy động để chi viện cho mặt trận Đường 9 - Khe Sanh. Đến trước ngày mở màn chiến dịch (20/1/1968), đã có 7.624 tấn vật chất (vũ khí, lương thực…) được vận chuyển đến mặt trận, bằng 28,5% tổng nhu cầu. Tính chung toàn chiến dịch, hậu cần chiến dịch đã cung cấp cho bộ đội 15.958 tấn, trong đó đạn dược 3.360 tấn, xăng dầu 1.466 tấn, lương thực, thực phẩm 10.002 tấn [4].

Bên cạnh đó, phát huy sức mạnh của cuộc chiến tranh nhân dân, các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương đã động viên sự tham gia đóng góp sức người, sức của của đông đảo nhân dân trên địa bàn chiến dịch. Trước và trong chiến dịch, chính quyền và nhân dân địa phương đã phối hợp chặt chẽ với bộ đội, công binh mặt trận mở đường cho xe cơ giới, xe thô sơ. Nhân dân Bắc Quảng Trị đã đóng góp khoảng 4.000 ngày công, mở được gần 30 km đường cho xe thô sơ và người đi bộ; tham gia vận chuyển (chủ yếu gùi thồ và phương tiện thô sơ) trên 800 tấn vật chất phục vụ chiến đấu. Riêng huyện Hướng Hóa có khoảng 3.000 lượt người tham gia dân công hỏa tuyến trong 4 tháng liên tục, ủng hộ 200 tấn gạo, khoảng  3.000 tấn sắn cho chiến dịch. Những ngày cuối tháng 2/1968, nhân dân các xã Vĩnh Hòa, Vĩnh Quang, Vĩnh Giang… bên bờ Bắc sông Bến Hải, đêm đêm huy động hàng chục chiếc thuyền chở bộ đội qua sông dưới bom đạn địch. Có đêm, nhân dân hai xã Gio Cam và Giang Hà cùng với bộ đội chặt hàng trăm cây tre, làm hàng trăm bó chông và vận chuyển khối lượng lớn dây thép gai giăng xuống sông để cản tàu địch…

Không chỉ đóng góp sức người, sức của, nhân dân địa phương còn tích cực phục vụ, cứu chữa, chăm sóc thương bệnh binh, cổ vũ, động viên bộ đội, trở thành điểm tựa vững chắc về tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ. Cùng với huy động hiệu quả nguồn lực tại chỗ, nhân dân các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh đã chi viện hàng chục nghìn lượt thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, hàng chục nghìn ngày công và trên 200 tấn lương thực, thực phẩm cho chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh [5].

Như vậy, qua những kết quả đã đạt được, có thể khẳng định, trong Chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh Xuân - Hè 1968, hậu phương chiến tranh nhân dân đã được động viên và phát huy cao độ, góp phần to lớn vào thắng lợi chiến dịch.

Thứ tư, Chiến thắng Đường 9 - Khe Sanh 1968 -  đòn nghi binh chiến lược tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 trên toàn miền Nam, góp phần đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ

Thực hiện chủ trương chiến lược của Đảng, Chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh Xuân - Hè 1968 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao: Thu hút lực lượng cơ động của địch ra vòng ngoài để giam chân, tiêu hao, tiêu diệt, tạo điều kiện cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy ở các đô thị. Đây chính là đòn nghi binh chiến lược của ta.

Từ cuối năm 1967, qua nắm tình hình, ta biết được Mỹ đánh giá ta chưa đủ khả năng đánh lớn. “Tương kế tựu kế”, ta đề ra kế hoạch nghi binh với mục đích khiến cho địch tin vào sự đánh giá của chúng là đúng. Bộ Tổng Tham mưu đã dự thảo kế hoạch nghi binh chiến lược phục vụ Tổng tiến công và nổi dậy, đồng thời xây dựng một loạt kế hoạch nghi binh của cả Trung ương và địa phương, có sự phối hợp với các cơ quan tình báo, ngoại giao, báo chí, đài phát thanh… Tất cả tạo thành sự đồng bộ, thống nhất, gây bất ngờ cho địch.    

Ở hướng Đường 9, ta xác định dùng đòn tiến công của bộ đội chủ lực nhằm thu hút, phân tán lực lượng, giam chân, tiêu diệt địch. Cụ thể, ta phong tỏa cảng Cửa Việt, tiêu diệt các cứ điểm vòng ngoài như Hướng Hóa, Huội San, Cam Lộ… nhằm cô lập quân Mỹ ở Khe Sanh; bao vây lực lượng phòng ngự, tiêu diệt lực lượng ứng cứu giải tỏa bên ngoài, buộc địch phải rút quân. Thực tế chiến dịch đã diễn ra và đạt được ý định của ta: Quân giải phóng đã kéo được các đơn vị cơ động mạnh, bao gồm toàn bộ Sư đoàn 1 kỵ binh không vận, hầu hết lực lượng Thủy quân lục chiến Mỹ, Lữ đoàn 3 dù quân đội Sài Gòn, đánh cho chúng thiệt hại nặng; tạo điều kiện thuận lợi cho quân và dân ta tổng tiến công và nổi dậy ở đô thị. Liên tục tiến công đánh thiệt hại nặng lực lượng giải tỏa của địch, Quân giải phóng buộc địch phải rút bỏ Khe Sanh, một địa bàn chiến lược trọng yếu đối với chúng để ngăn chặn tuyến chi viện chiến lược Bắc - Nam của ta.

Cùng với đòn tiến công quân sự vào hệ thống phòng thủ của địch ở khu vực Đường 9 - Khe Sanh, các cơ quan báo chí, phát thanh được chỉ đạo hạn chế tuyên truyền về những trận đánh trong đô thị miền Nam, tập trung tuyên truyền cho hướng nghi binh ở Đường 9 - Khe Sanh. Chính vì vậy, cùng với những diễn biến khác trên khắp các chiến trường, chiến sự ở Khe Sanh đã thu hút được sự chú ý đặc biệt của truyền thông và công chúng Mỹ. Khe Sanh trở thành mối lo ngại của giới cầm quyền hiếu chiến Mỹ về “một Điện Biên Phủ” thứ hai. Tổng thống Mỹ Giôn-xơn đã cho lập “Phòng tình hình đặc biệt” tại Nhà Trắng để theo dõi chiến sự ở Khe Sanh. Thậm chí, tướng Oét-mô-len - Tổng chỉ huy Quân đội Mỹ tại miền Nam Việt Nam được Tổng thống Mỹ yêu cầu phải làm giấy cam đoan không được để mất Khe Sanh.

Giữa lúc Khe Sanh trở thành tâm điểm chú ý của chính trường và cả nước Mỹ thì ta đồng loạt tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam. Mặt trận Khe Sanh đã hoàn thành nhiệm vụ làm cho Bộ Chỉ huy Quân sự Mỹ ở miền Nam Việt Nam phải phân tán lực lượng và bị bất ngờ về hướng tiến công chiến lược của ta trong Xuân - Hè 1968.

Mặc dù Mỹ đã sử dụng một lực lượng lớn chủ lực thiện chiến cùng nhiều loại vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại nhằm giải cứu Khe Sanh, nhưng mục tiêu giành chiến thắng hòng xoay chuyển cục diện cuộc chiến của chúng vẫn không thực hiện được. Quân Mỹ không giành được quyền chủ động và bị tiến công khắp mọi nơi, phải căng kéo lực lượng để đối phó với ta trên toàn miền Nam. Từ cuối tháng 6/1968, Mỹ buộc phải rút quân khỏi căn cứ Khe Sanh cùng nhiều vị trí quan trọng khác. Về sự kiện này, Hãng tin BBC, ngày 30/6/1968 bình luận rằng: Việc rút lui khỏi Khe Sanh không đơn giản chỉ bỏ rơi một yếu điểm, mà còn là bỏ rơi một ảo tưởng và một chính sách. Tất cả nỗ lực của Hoa Kỳ đã tan ra tro như những pháo đài bê tông cốt sắt ở Khe Sanh.

Chiến thắng Đường 9 - Khe Sanh cùng với thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 trên khắp các đô thị miền Nam đã làm thất bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ. Hy vọng giành thắng lợi quân sự của Mỹ trở nên mỏng manh, buộc chúng phải chuyển sang chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, đơn phương từng bước xuống thang chiến tranh, ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, cử đại diện đàm phán với đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Pa-ri, tiến tới rút quân về nước. Ý chí xâm lược của Mỹ bị giáng một đòn nặng nề. Ta thu được thắng lợi lớn cả về quân sự, chính trị và ngoại giao.

Như vậy, Chiến thắng Đường 9 - Khe Sanh 1968 sau 50 năm nhìn lại đã một lần nữa cho chúng ta tiếp tục khẳng định: Đây chính là sự hội tụ của nhiều nhân tố, tạo ra và nhân lên thành sức mạnh tổng hợp. Đó là chủ trương đúng đắn và tài thao lược của Đảng ta trong chỉ đạo chiến lược, điều hành chiến tranh; là sức mạnh của QĐND Việt Nam và nghệ thuật quân sự Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh - một nền nghệ thuật phát huy mạnh mẽ nhân tố con người, lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông, lấy trí tuệ và bản lĩnh của con người Việt Nam để thắng vũ khí và sức mạnh bạo tàn của kẻ thù. Đó còn là sức mạnh của đông đảo quần chúng, của cuộc chiến tranh nhân dân được phát huy mạnh mẽ. Cùng với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân ở các đô thị miền Nam, Chiến thắng Đường 9 - Khe Sanh 1968 đã góp phần đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta phát triển lên bước cao hơn, tiến tới đánh bại hoàn toàn đế quốc Mỹ xâm lược.

[1] - Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh Xuân Hè 1968, Hà Nội, 1987, tr.12.

[2] - Bộ Quốc phòng - Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự, Từ điển Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, quyển 1: Lịch sử quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr.146.

[3] - Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2013, t.5, tr.118.

[4] - Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Lịch sử hậu cần - kỹ thuật quân sự Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tập 2 (1965 - 1972), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr.203.

[5] - Quân khu 4 - Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Hướng Hóa - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Giải phóng Khe Sanh - Hướng Hóa - Mậu Thân 1968, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1998, tr.168.

Thiếu tướng, TS Nguyễn Hoàng Nhiên, Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam

File đính kèm :

Trang trước | Trang sau